Vietnamese (VN)English (UK)

Mối Quan Hệ Giữa Quá Trình Quốc Tế Hóa Và Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Doanh Nghiệp Sản Xuất Tại Việt Nam

Mối Quan Hệ Giữa Quá Trình Quốc Tế Hóa Và Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Doanh Nghiệp Sản Xuất Tại Việt Nam: Tác Động Trung Hòa Của Tài Nguyên Dự Trữ

 

HUỲNH THỊ NGỌC HIỀN (VNP19, 2013-2015)

 

TÓM TẮT

Khi cả thế giới chuyển hướng mở rộng toàn cầu hóa, các doanh nghiệp toàn cầu trong cả các nước phát triển và các nước đang phát triển đã và đang trở thành động lực chính của quá trình này. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quốc tế hóa và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, câu trả lời vẫn còn tương đối mơ hồ do những sự khác biệt quá lớn giữa các kết quả nghiên cứu trước. Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng của 45.491 doanh nghiệp sản xuất Việt Nam trong suốt giai đoạn sáu năm (2007-2012) theo khảo sát của Tổng cục Thống kê (GSO) để điều tra tác động của mức độ quốc tế hóa về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam được thừa nhận là phụ thuộc quá nhiều vào thị trường tín dụng và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong chính sách tài khóa và tiền tệ quốc gia. Trước những bối cảnh trên, tài nguyên dự trữ là một công cụ kỳ diệu để cho phép các doanh nghiệp thực hiện thành công chiến lược quốc tế hóa. Sau khi tiến hành phân tích mô hình tác động cố định, nghiên cứu tìm thấy một mối quan hệ có cả ý nghĩa thống kê và ý nghĩa kinh tế theo hình chữ S giữa mức độ quốc tế hóa (DOI) và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể, DOI tác động làm giảm hiệu quả doanh nghiệp trong giai đoạn đầu, sau đó tăng trong giai đoạn tiếp theo, và tiếp tục giảm trở lại trong giai đoạn 3. Hơn nữa, kết quả hồi quy chỉ ra rằng mức độ cao hơn của cả tài nguyên dự trữ với mức độ tùy ý cao và tài nguyên dự trữ với mức độ tùy ý thấp giúp cải thiện tác động của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp.

(Đây chỉ là Tóm tắt Luận Văn được dịch sang Tiếng Việt, Luận văn hoàn chỉnh bằng Tiếng Anh hiện đang có tại Thư Viện Chương trình Việt Nam-Hà Lan: 1A Hoàng Diệu, P10, Q. Phú Nhuận, TpHCM) 

1. Giới thiệu chung

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới đã chứng kiến một sự thay đổi ngoạn mục khi mà các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển đã bắt đầu đóng một vai trò quan trọng trong thị trường toàn cầu (Chittoor, Kundapura, 2009). Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng hầu hết các doanh nghiệp này vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình quốc tế và chủ yếu tập trung vào các hoạt động thăm dò thị trường và xuất khẩu (Aulakh, Kotabe & Teegen, 2000).

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã phát triển những bước quan trọng trong quá trình hội nhập toàn cầu với mức độ gia tăng doanh số bán hàng quốc tế. Tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2012 đã đạt được một con số ấn tượng của 114,6 tỷ USD nhờ vào sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp sản xuất chi phí thấp, sử dụng nhiều lao động và sự trỗi dậy mạnh mẽ của ngành công nghiệp sản xuất công nghệ cao.

Mặc dù có một bức tranh rất tuyệt vời được vẽ ra cho các doanh nghiệp Việt Nam đối với xu thế toàn cầu hóa, Aulakh, Kotabe & Teegen (2000) tin rằng hầu hết các doanh nghiệp mới hội nhập tại các nước đang phát triển vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình. Theo cách này, lý thuyết ba giai đoạn quốc tế hóa của Contractor, Kundu, & Hsu (2003) chỉ ra rằng ở giai đoạn đầu này, các doanh nghiệp tham gia thị trường quốc tế hầu hết phải đối mặt với sự bất ổn của thị trường và phát sinh một nhu cầu cấp thiết trong việc nâng cao kiến thức thị trường. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp Việt Nam phải xem xét lựa chọn chỉ kinh doanh nội địa hay tham gia thị trường quốc tế. Rõ ràng là dưới chính sách thắt chặt tiền tệ của Việt Nam và các cuộc khủng hoảng không ngừng, các nguồn lực tài chính, đặc biệt là nguồn tài nguyên dự trữ các doanh nghiệp để đầu tư vào quá trình quốc tế hóa, mở rộng thị trường quốc tế trở nên hết sức khan hiếm.

Trong khía cạnh nghiên cứu khoa học, nhiều nghiên cứu trước đây phần lớn tập trung điều tra liệu quá trình quốc tế hóa góp phần cải thiện hay làm giảm sút hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong những ngành công nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng những kết quả này rất gây tranh cãi và thậm chí còn làm nảy sinh nhiều câu hỏi hơn là đáp án (Glaum & Oesterle, 2007). Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này ở Việt Nam đã được tìm thấy. Hơn nữa, những kết quả gây tranh cãi từ các nghiên cứu trước đây tiếp tục thu hút sự quan tâm của cộng đồng khoa học nghiên cứu về thương mại quốc tế. Dưới góc độ hành vi của doanh nghiệp, nghiên cứu này nhằm mục đích để khám phá mối quan hệ giữa mức độ quốc tế hóa và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của tài nguyên dự trữ bào gồm cả hai loại lên mối quan hệ này như trong Lin, Liu & Cheng (2011).

Nghiên cứu này tiến hành phân tích định lượng trên dữ liệu bảng (không cân bằng) của 45.491 doanh nghiệp sản xuất Việt Nam thuộc các ngành công nghiệp sản xuất khác nhau từ năm 2007 đến năm 2012. Cả hai mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn mô hình phù hợp nhất.

2. Cơ sở lý thuyết

Quốc tế hóa

Johanson & Vahlne (1977) định nghĩa quốc tế hóa là một quá trình gồm nhiều giai đoạn mà các doanh nghiệp thực hiện các nỗ lực không ngừng để tăng cường sự tham gia và chia sẻ thị trường quốc tế, đồng thời dần dần cải thiện nhận thức và cam kết của người tiêu dùng nước ngoài đối với sản phẩm của họ. Có hai kênh gia tăng theo cấp độ của quá trình quốc tế hóa của các doanh nghiệp (Johanson, & Vahlne, 1977; Westhead và cộng sự 2001; Contractor và cộng sự, 2003). Kênh đầu tiên là thông qua hoạt động xuất khẩu để đưa sản phẩm nội địa thâm nhập thị trường quốc tế. Kênh thứ hai ở mức độ cao hơn là bắt đầu mở rộng hoạt động sản xuất ra nước ngoài dưới hình thức của FDI (Westhead và cộng sự, 2001).

Tuy nhiên, Aulakh và cộng sự (2000) nhấn mạnh rằng hoạt động xuất khẩu là trọng tâm chính của hầu hết các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển để giải quyết vấn đề mở rộng thị trường tiêu thụ. Bằng cách này, xuất khẩu là lựa chọn tốt và ít tốn kém nhất để đa dạng hóa và mở rộng kích cỡ thị trường (Johanson, & Vahlne, 1977).

Tương tự như Aulakh và cộng sự, 2000; Assaf và cộng sự (2012) cũng nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp có xu hướng bắt đầu quá trình quốc tế của họ bằng cách xuất khẩu sang các thị trường tương tự. Điều này có thể bắt nguồn từ thực tế là doanh nghiệp toàn cầu có thể tự tin và chủ động hơn trong việc thực hiện các chiến lược quốc tế hóa thích hợp trong các môi trường kinh doanh tương đồng (Aulakh và cộng sự, 2000).

Mức độ quốc tế hóa và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Quốc tế hóa được xem là một quá trình chiến lược thiết yếu giúp doanh nghiệp tăng trưởng bền vững và tăng cường lợi thế cạnh tranh (Hutchinson và cộng sự, 2007; Aulakh và cộng sự, 2000). Trong môi trường quốc tế hóa, các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô thị trường của họ mà không cần quá tốn kém, đạt được quy mô kinh tế thông qua việc giảm bớt chi phí sản xuất và đồng thời dễ dàng áp dụng chiến lược phân biệt giá và tiếp cận với các nguồn tài nguyên rẻ (Contractor và cộng sự, 2003) .

Mặt khác, nhiều người tranh luận rằng quá trình quốc tế hóa gây nên những tác động tiêu cực đến hiệu quả doanh nghiệp. Eriksson và cộng sự (1997) đã chỉ ra nhiều bất lợi mà các doanh nghiệp tham gia thị trường quốc tế phải đối mặt như sự cạnh tranh khốc liệt trên quy mô toàn cầu, những phát sinh trong chi phí giao dịch và quản lí, sự biến động thị trường và sự đa dạng về văn hóa và sở thích. Tính đến thời điểm này, cũng phải thừa nhận rằng mặc dù quy mô thị trường của doanh nghiệp toàn cầu có thể tăng gấp đôi, gấp ba hoặc thậm chí tăng trưởng theo cấp số nhân, tuy nhiên, số lượng ngày càng tăng của đối thủ cạnh tranh cũng như một loạt các tiêu chuẩn và quy định có thể gây ra một gánh nặng thực sự chứ không phải là một cơ hội tốt cho các doanh nghiệp tham gia trong ngắn hạn (Bobillo và cộng sự, 2010).

Trong một cái nhìn toàn diện hơn, Contractor và cộng sự (2003) mô tả đầy đủ quá trình quốc tế hóa thông qua ba giai đoạn riêng biệt với những tác động khác nhau của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp.

Biểu 1: Lý Thuyết “hình chữ S” mô tả 3 giai đoạn của việc mở rộng hội nhập quốc tế của doanh nghiệp (Contractor và cộng sự, 2003).

EN Hien Fig1

Trong giai đoạn đầu, các doanh nghiệp thường tập trung vào việc thăm dò thị trường và tăng cường kinh nghiệm, kiến thức hội nhập để hỗ trợ hoạt động xuất khẩu (Johanson, & Vahlne, 1977). Bằng cách này, các doanh nghiệp trước tiên nhằm vào những thị trường quốc tế quen thuộc, có nhiều tương đồng thông qua việc khám phá các đặc điểm cụ thể như nền văn hóa, ngôn ngữ, thói quen, sở thích, vv và sau đó tiến hành xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ đã được thích ứng đến những thị trường này. Không thể phủ nhận, ở giai đoạn này, các doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều rào cản pháp lí cũng như phải chi trả cho chi phí học hỏi, thăm dò để có được những thông tin thị trường (Johanson, & Vahlne, 1977). Vì vậy, ở giai đoạn đầu, quốc tế hóa có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả doanh nghiệp. Tuy nhiên, tác động này có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực và sự linh hoạt của mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường toàn cầu (Johanson & Vahlne, 1990; Westhead và cộng sự, 2001; Contractor và cộng sự, 2003).

Khi chuyển tiếp qua giai đoạn thứ hai, các doanh nghiệp toàn cầu bắt đầu đạt được lợi ích từ quá trình quốc tế hóa. Những chi phí đã và đang bỏ ra dần dần được bù đắp bởi những lợi ích gia tăng và khoản thu lớn hơn từ việc mở rộng toàn cầu (Contractor và cộng sự, 2003). Ở giai đoạn này, các doanh nghiệp đã tích lũy được kinh nghiệm hội nhập và có được kiến thức thị trường khá đầy đủ, đồng thời biết làm thế nào để thực hiện chiến lược xuất khẩu của họ hiệu quả hơn. Tính đến thời điểm này, hầu hết các doanh nghiệp đạt được quy mô kinh tế và có thể áp dụng chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và giá cho các thị trường và đối tượng khách hàng khác nhau (Hutchinson và cộng sự, 2007). Vì vậy, trong giai đoạn 2, quốc tế hóa được cho là có tác động tích cực lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

Giai đoạn thứ ba thường được biết đến như giai đoạn "vượt quá ngưỡng tối ưu". Cũng phải thừa nhận rằng không phải quy mô mở rộng càng lớn thì hiệu quả càng cao vì các doanh nghiệp có thể giảm bớt khả năng kiểm soát của mình đối với một hệ thống quá rộng với quá nhiều quốc gia và khu vực (Contractor và cộng sự, 2003). Điều này có thể gây ra một gánh nặng chi phí cho các doanh nghiệp hơn một cơ hội mới (Assaf và cộng sự, 2012 được trích dẫn trong Ramaswamy, 1992; Siddharthan & Lall, 1982). Một khi các doanh nghiệp đạt được mức độ tối ưu của quá trình quốc tế hóa, bất kỳ sự gia tăng thêm nào của DOI dường như là không có hiệu quả kinh tế. Vì vậy, trong giai đoạn 3, hiệu quả doanh nghiệp được tin là là sẽ giảm sút khi mức độ quốc tế hóa vượt quá ngưỡng tối ưu (Contractor và cộng sự, 2003).

Dựa trên những lý thuyết trên, giả thuyết đầu tiên được phát biểu như sau:

H1: Mức độ quốc tế hóa có một mối quan hệ hình chữ S với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. (có nghĩa là hiệu quả doanh nghiệp giảm trong giai đoạn đầu, sau đó tăng cho đến điểm tối ưu và giảm trở lại sau khi DOI vượt ngưỡng tối ưu).

Tài nguyên dự trữ

Bourgeois (1981) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tài nguyên dự trữ như một công cụ chiến lược được sử dụng để đối phó với những áp lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Sharfman and cộng sự (1988) thông qua mô tả bởi các tiền đề của tài nguyên dự trữ trong tổ chức đã chỉ ra rằng tài nguyên dự trữ đến từ sự thặng dư của nguồn lực tài chính và nằm ngoài số tiền cần thiết để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm. Cụ thể, tài nguyên dự trữ có thể được sử dụng để thực thi những thay đổi chiến lược bên trong hoặc bên ngoài và đồng thời góp phần giải quyết những tình huống phát sinh ngoài dự đoán; ví dụ như đầu tư vào những cơ hội mới, mở rộng sang một thị trường mới.

Tài nguyên dự trữ, dựa trên nguồn gốc và sự linh hoạt của chúng cho việc đáp ứng tức thì các nhu cầu tài chính để sử dụng and họ từ đâu đến, được chia thành hai loại – tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao và tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý thấp (Sharfman and cộng sự, 1988; Daniel and cộng sự, 2004).

Tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao là nguồn tiền có tính lưu động cao như tiền mặt và các khoản phải thu. Tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao càng nhiều nghĩa là công ty càng có năng lực thực tế cao hơn để đáp ứng nhu cầu tài chính tức thời. Không thể phủ nhận rằng tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao càng nhiều sẽ khuyến khích nhà quản trị cởi mở hơn trong việc ra quyết định và đầu tư vào những cơ hội mới. Bên cạnh đó, nguồn tiền này cung cấp một quỹ an toàn để đối phó với những rủi ro có thể xảy ra và những nhu cầu bắt buộc trong quá trình quốc tế hóa. Do đó, giả thuyết thứ hai được phát biểu như sau:

H2: Tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao càng nhiều thì tác động của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp càng được cải thiện.

Tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý thấp bao gồm những nguồn tài chính kém lưu động như nợ và sản cố định. Tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý thấp càng nhiều nghĩa là sức mạnh mượn nợ của doanh nghiệp càng lớn. Nói cách khác, doanh nghiệp có khoản thế chấp lớn hơn để mượn vốn từ thị trường tài chính. Do đó, giả thuyết thứ ba là:

H3: Tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý thấp càng nhiều thì tác động của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp càng được cải thiện.

Các nghiên cứu thực nghiệm

Trong thời gian gần đây, một số học giả đã sử dụng các yếu tố dung hòa khác nhau như là một công cụ hiệu quả để điều tra đầy đủ mối quan hệ giữa DOI và hiệu quả doanh nghiệp theo những góc nhìn khác nhau, ví dụ, lợi thế cạnh tranh bên trong và bên ngoài (Bobillo và cộng sự, 2010), hành vi của doanh nghiệp (Lin, Liu & Cheng, 2011).

Riahi-Belkaoui (1998) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ quốc tế hóa lên hiệu quả hoạt động của 100 công ty sản xuất và thương mại của Mỹ từ năm 1987 đến năm 1993. Ông đã sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính từng phần để giải thích cho sự chênh lệch về độ dốc của từng ngưỡng DOI nhất định qua ba giai đoạn riêng biệt. Nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ hình chữ S giữa DOI và hiệu quả doanh nghiệp, phù hợp với lý thuyết của Contractor and cộng sự, 2003.

PERFORMANCE = a1 + a2DOI1i + a3DOI2i + a4DOI3i +a51Ai +ui

 

Tương tự như Riahi-Belkaoui (1998), Bobillo và cộng sự (2010) cũng tìm thấy một mối quan hệ hình chữ S giữa sự hội nhập quốc tế và hiệu quả doanh nghiệp dưới tác động điều hòa của năng lực cạnh tranh bên trong và bên ngoài. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của Worldscope nơi tập hợp trên 1.500 báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sản xuất tại EU từ 1991 đến 2001 để tạo thành một bộ dữ liệu bảng với hơn 15.000 quan sát. Hơn nữa, nghiên cứu đã cố gắng để nắm bắt tác động của mức độ quốc tế qua từng thời kì khác nhau bằng cách sử dụng mô hình hồi quy bậc hai and bậc ba.

ROAit = β0 +   β1DOIit +   β2DOIit2 + β3DOIit3 +   β4SIZEit +   β5OWNERSHIPit + ηi + εit

Cuối cùng, Bobillo and cộng sự (2010) tin rằng doanh nghiệp chỉ có thể thành công trong chiến lược quốc tế hóa một khi họ có thể dung hòa năng lực cạnh tranh của mình vào nền tảng thể chế của đất nước như hệ thống tài chính và thị trường lao động.

Dưới góc nhìn của hành vi doanh nghiệp, Lin, Liu & Cheng (2011) đã tiến hành phân tích mô hình tác động cố định trên 179 doanh nghiệp sản xuất công nghệ cao tại Đài Loan trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2005. Họ chủ yếu tập trung vào phân tích tác động điều hòa của tài nguyên dự trữ. Ngoài ra, họ bổ sung thêm quy mô doanh nghiệp, số năm hoạt động, cổ phần nội bộ và mức độ R&D. Trong phần kết luận, họ phát hiện ra rằng mức độ quốc tế hóa ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả doanh nghiệp, trong khi mối quan hệ hình chữ S đã không được tìm thấy như các nghiên cứu trước. Quan trọng hơn, tác động của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp được tăng cường đối với các công ty sở hữu nhiều tài nguyên dự trữ hơn.

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng các dữ liệu các doanh nghiệp Việt Nam được khảo bởi Tổng cục Thống kê (GSO) trong suốt thời gian sáu năm từ 2007 đến 2012. Nghiên cứu này chỉ sử dụng các dữ liệu của các doanh nghiệp sản xuất là mục tiêu nghiên cứu ban đầu. Vì vậy, sau khi lọc dữ liệu và loại bỏ các quan sát nằm ngoài nhóm, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài and hợp tác xã (lhdn = 12 and lhdn = 6, tương ứng) đã được loại trừ, các công ty sản xuất với "nganh_kd" mã từ 10 * -33 * được giữ lại và hình thành bộ dữ liệu bảng bao gồm 59.770 quan sát thuộc 45.491 doanh nghiệp sản xuất chưa niêm yết trong giai đoạn từ 2007 to 2012.

Bảng 1: Giải thích biến và dấu dự kiến

VN Hien Table1

 

Để kiểm định ba giả thuyết chính, nghiên cứu này đầu tiên sử dụng cả hai mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên. Ngoài ra, hình thức khối and bậc hai của DOI được thêm vào để nắm bắt mối quan hệ không tuyến tính giữa DOI và hiệu quả doanh nghiệp (Green, 2008). Kiểm định Hausman được thực hiện sau đó để chọn ra mô hình phù hợp nhất.

Bên cạnh đó, các kiểm định sau đây được thực hiện để đảm bảo tính tin cậy của kết quả hồi quy: kiểm định VIF đối với trường hợp đa cộng tuyến, kiểm định Ramsey Reset đối với trường hợp các biến bị bỏ qua, kiểm định White đối với trường hợp phương sai thay đổi, kiểm định Wooldrige đối với trường hợp tự tương quan.

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
 

Bảng 2 cho thấy hệ số hồi quy hầu hết đều có ý nghĩa thống kê và dấu của tất cả các biến nhất quán giữa các mô hình OLS, FEM and REM và đồng thời phù hợp với các dấu dự kiến như trong các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Ngoại trừ DOI, DOI3 and các loại hình sở hữu doanh nghiệp, tất cả các biến được tìm thấy có một mối quan hệ dương có ý nghĩa thống kê với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

Theo kết quả, DOI and DOI3 có tác động tiêu trong khi DOI2 ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các biến tương tác của tài nguyên dự trữ và mức độ quốc tế hóa đã được tìm thấy là góp phần tích cực trong việc điều tiết mối quan hệ giữa DOI và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Rõ ràng là kết quả hồi quy hoàn toàn ủng hộ các ba giả thuyết H1, H2 H3 được đặt ra. Ngoài ra, kiểm định Hausman cho thấy sự phù hợp hơn hẳn của mô hình tác động cố định (p-value = 0.0000 <0.05), vì vậy phần này chủ yếu tập trung vào việc giải thích các kết quả của mô hình tác động cố định.

Dựa vào bảng 2, mô hình "TĐCĐ 1" and mô hình “TĐCĐ 2" là khá hoàn thiện. Như đã đề cập ở trên, tác động của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp được tìm thấy theo xu hướng hình chữ S. Trong giai đoạn đầu tiên, DOI dẫn đến giảm hiệu quả doanh nghiệp(β1 = -0,2711, p <0,01). Trong giai đoạn thứ hai, DOI2, ngược lại, tích cực ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp (β2 = 0,4578, p <0,01). Trong giai đoạn thứ ba, DOI3 được tìm thấy có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả doanh nghiệp (β3 = -0,2958, p <0,05).

Những kết quả trên phù hợp với phát hiện của Bobillo and cộng sự (2010). Tuy nhiên, Lin, Liu and Cheng (2011) tìm thấy một mối quan hệ tuyến tính âm giữa DOI và hiệu quả doanh nghiệp và không có bất kỳ dấu hiệu nào của một mối quan hệ hình chữ S. Nói chung, các hệ số hồi quy của DOI, DOI2, DOI3 đại diện cho rằng tác động trung bình của DOI, DOI2, DOI3 trên hiệu quả doanh nghiệp là -27,11%, 45,78% và -29,58% khi DOI, DOI2 và DOI3 thay đổi qua năm and giữa các công ty 1 %, giữ cho các biến khác không đổi. Như vậy, kết quả ủng hộ giả thuyết đầu tiên.

Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp, tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao, tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý thấp và quy mô đều góp phần nâng cao hiệu quả doanh nghiệp và có ý nghĩa thống kê (βS = 0,0350, p <0,01; βH = 0,0011, p <0,05; βL = 0,0072, p <0,01, tương ứng). Đặc biệt, sự tương tác giữa DOI and tuỳ cao chùng kết quả hệ số tích cực đáng kể (βD-H = 0,0259, P <0,01). Đặc biệt, giữ các yếu tố khác không đổi, ảnh hưởng của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp tăng 2,59% khi tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao tăng 1%. Tương tự như vậy, ảnh hưởng của DOI lên hiệu quả doanh nghiệp tăng 0,99% khi tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý thấp tăng 1%.

Bảng 2: Kết quả hồi quy OLS, tác động cố định và tác động ngẫu nhiên

EN Hien Table2

 

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ hình chữ S giữa DOI và hiệu quả doanh nghiệp qua ba giai đoạn khác nhau. Sự giảm sút hiệu quả ban đầu có thể đến từ các rào cản pháp lí, kiến thức thị trường chưa đủ cũng như tất cả các chi phí ban đầu của quá trình hội nhập quốc tế. Sự cải thiện hiệu quả doanh nghiệp trong giai đoạn thứ hai cho thấy những chi phí của quá trình toàn cầu hóa đang dần được bù đắp bởi những lợi ích lớn hơn sau khi doanh nghiệp mở rộng thị trường và đạt được quy mô kinh tế. Sau đó, hiệu quả doanh nghiệp giảm trở lại với mức độ cao hơn củs DOI, chứng tỏ rằng khi DOI vượt ngưỡng tối ưu cũng là lúc các chi phí giao dịch, quản trị cũng như sự đa dạng của thị trường đã nằm ngoài kiểm soát của doanh nghiệp (Contractor và cộng sự, 2003).

Một phát hiện khác là tầm quan trọng của tài nguyên dự trữ trong việc trung hòa mối quan hệ giữa DOI và hiệu quả doanh nghiệp. Cả tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao và tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý thấp là công cụ chiến lược để giảm bớt những áp lực bên trong và bên ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các cơ hội mới (Bourgeois, 1981; Sharfman and cộng sự, 1988). Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp and hình thức sở hữu cổ phần được tìm thấy có tác động tích cực đến hiệu quả doanh nghiệp khi chúng được đưa vào làm các biến kiểm soát.

Từ kết quả thực nghiệm, nghiên cứu có 2 đề xuất dựa trên góc nhìn quản lí. Đề xuất đầu tiên là xác định mức độ phù hợp của quốc tế hóa đối với công ty. Giả định "sự hội nhập quốc tế càng nhiều, lợi ích càng lớn" đã không còn là một giả định đúng đắn trong trường hợp của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Một khi công ty quyết định tham gia thị trường toàn cầu, họ nên đầu tư vào một kế hoạch chiến lược chu đáo cùng với sự phát triển không ngừng các kinh nghiệm hội nhập và kiến thức thị trường. Bằng cách này, các doanh nghiệp nên bắt đầu thăm dò và mở rộng đến các thị trường nước ngoài có những đặc điểm tương đồng với thị trường nội địa (Aulakh và cộng sự, 2000; Assaf và cộng sự, 2012).

Thứ hai, vì tài nguyên dự trữ đóng một vai trò rất quan trọng trong sự thành công của quá trình quốc tế hóa trong một tổ chức, các doanh nghiệp nên tối ưu hóa những lợi ích của công cụ chiến lược này bằng cách phân bổ nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả, đến những hoạt động có tính chiến lược. Ngoài ra, các công ty có thể trực tiếp quản lý tài nguyên dự trữ có mức độ tùy ý cao bằng cách cải thiện công tác quản lí tài sản lưu động và nợ ngắn hạn (Lin, Liu & Cheng, 2011).

Do hạn chế trong việc sử dụng dữ liệu thứ cấp và thiếu các dữ liệu liên quan và lượng quan sát không đủ, nên nghiên cứu này không thể đo lường được các biến kiểm soát được định nghĩa như ban đầu bao gồm mức độ sử dụng công nghệ thông tin, khả năng học hỏi thích ứng, mức độ R&D. Ngoài ra, việc sử dụng chỉ số duy nhất để đo lường mức độ quốc tế hóa có thể không đầy đủ để hấp thụ các thuộc tính cụ thể của quả trình này. Chỉ số tổng hợp phổ biến nhất của DOI bao gồm ba khía cạnh: (1) hiệu quả quốc tế hóa (doanh thu quốc tế/ tổng doanh thu), (2) cấu trúc quốc tế hóa (tài sản nước ngoài/ tổng tài sản) và (3) phân tán địa lý (tính theo số nước mà doanh nghiệp có các công ty con) (Sullivan, 1994; Lin, Liu & Cheng, 2011).

Nghiên cứu này loại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hợp tác xã ra khỏi mẫu quan sát trong khi cũng phải thừa nhận rằng các loại hình doanh nghiệp này cũng đóng một phần quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam and đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu. Vì vậy, việc đánh giá quá trình quốc tế hóa của các khu vực này có thể là một đề tài rất thú vị trong tương lai.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Aiken, L. S., & West, S. G. (1991).Multiple regression: Testing và interpreting interactions. Sage.

Assaf, A. G., Josiassen, A., Ratchford, B. T., & Barros, C. P. (2012). Internationalization và performance of retail firms: a Bayesian dynamic model.Journal of Retailing, 88(2), 191-205.

Aulakh, P. S., Kotabe, M. & Teegen, H. (2000). Export Strategies và Performance of Firms from Emerging Economies: Evidence from Brazil, Chile, và Mexico. The Academy of Management Journal, 43(3), 342-361.

Bobillo, A. M., López-Iturriaga, F., & Tejerina-Gaite, F. (2010). Firm performance và international diversification: the internal và external competitive advantages. International Business Review, 19(6), 607-618.

Bourgeois, L.J. (1981) On the measurement of organizational slack. Academy of Management Review 6, 29–39.

Chen, H., & Hsu, C. W. (2010). Internationalization, resource allocation và firm performance. Industrial Marketing Management, 39(7), 1103-1110.

Chiao, Y. C., Yang, K. P., & Yu, C. M. J. (2006). Performance, internationalization, và firm-specific advantages of SMEs in a newly-industrialized economy. Small Business Economics, 26(5), 475-492.

Chittoor, R. (2009). Internationalization of Emerging Economy Firms-Need for New Theorizing. Indian Journal of Industrial Relations, 45(1).

Coad, A., Segarra, A., & Teruel, M. (2010). Like milk or wine: Does firm performance improve with age? (No. 1006). Papers on economics và evolution.

Contractor, F. J., Kundu, S. K., & Hsu, C. C. (2003). A three-stage theory of international expansion: The link between multinationality và performance in the service sector. Journal of international business studies, 34(1), 5-18.

Daniel, F., Lohrke, F. T., Fornaciari, C. J., & Turner Jr, R. A. (2004). Slack resources và firm performance: a meta-analysis. Journal of Business Research, 57(6), 565-574.

Eriksson, K., Johanson, J., Majkgård, A., & Sharma, D. D. (1997). Experiential knowledge và cost in the internationalization process. Journal of international business studies, 28, 337-360.

Gaur, A. S., Kumar, V., & Singh, D. (2014). Institutions, resources, và internationalization of emerging economy firms. Journal of World Business, 49(1), 12-20.

Glaum, M., & Oesterle, M. J. (2007). 40 years of research on internationalization và firm performance: more questions than answers?.Management International Review, 47(3), 307-317.

Greene, W. (2008). Econometric analysis of panel data. Department of Economics, Stern School of Business, New York University.

Hsu, W. T., Chen, H. L., & Cheng, C. Y. (2013). Internationalization và firm performance of SMEs: The moderating effects of CEO attributes. Journal of World Business, 48(1), 1-12.

Hutchinson, K., Alexvàer, N., Quinn, B., & Doherty, A. M. (2007). Internationalization motives và facilitating factors: qualitative evidence from smaller specialist retailers. Journal of International Marketing, 15(3), 96-122.

Johanson, J., & Vahlne, J. E. (1977). The internationalization process of the firm—a model of knowledge development và increasing foreign market commitments. Journal of international business studies, 8(1), 23-32.

Lin, W. T., & Liu, Y. (2012). Successor characteristics, organizational slack, và change in the degree of firm internationalisation. International Business Review, 21(1), 89-101.

Lin, W. T., Liu, Y., & Cheng, K. Y. (2011). The internationalization và performance of a firm: Moderating effect of a firm's behavior. Journal of international management, 17(1), 83-95.

Murray, M. P. (2005). Econometrics: A modern introduction. Pearson Higher Education.

O’Sullian D., Dooley L. (2008). Defining innovation. In Appling innovation. SAGE publications.

Pangarkar, N. (2008). Internationalization và performance of small-và medium-sized enterprises. Journal of World Business, 43(4), 475-485.

Riahi-Belkaoui, A. (1996). Internationalization, diversification strategy và ownership structure: Implications for French MNE performance. International Business Review, 5(4), 367-376.

Riahi-Belkaoui, A. (1998). The effects of the degree of internationalization on firm performance. International Business Review, 7(3), 315-321.

Sharfman, M., Wolf, G., Chase, R., Tansik, D., 1988. Antecedents of organizational slack. Academy of Management Review 13, 601–614

Simai, M. (1983). Stages of internationalization: A contribution to the establishment of a theoretical framework. Acta Oeconomica, 30 (1), 13-30.

Tan, J. (2003). Curvilinear Relationship Between Organizational Slack và Firm Performance:: Evidence from Chinese Joint Stock Enterprises. European Management Journal, 21(6), 740-749.

Tarutė, A., & Gatautis, R. (2014). ICT Impact on SMEs Performance. Procedia-Social và Behavioral Sciences, 110, 1218-1225.

Thomsen, S., & Pedersen, T. (2000). Ownership structure và economic performance in the largest European companies. Strategic Management Journal, 21(6), 689-705.

Tsai, H. T. (2013). Moderators on international diversification of advanced emerging market firms. Journal of Business Research.

Westhead, P., Wright, M., & Ucbasaran, D. (2001). The internationalization of new và small firms: A resource-based view. Journal of business venturing,16(4), 333-358.

World bank (2013). Taking stock: an update on Vietnam’s recent economic developments.

World bank (2014). Taking stock: an update on Vietnam’s recent economic developments.